Ông Huỳnh Văn Thòn (SN 1958) tại An Giang, là Kỹ sư Kinh tế. Trước khi gắn bó với Tập đoàn Lộc Trời, ông Thòn từng có thời gian công tác tại Sở Nông nghiệp tỉnh An Giang (nay là Sở NN&PTNT), Phó Giám đốc rồi Giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh An Giang.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 và dự báo năm 2022. trong thời gian tới, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ bật tăng trở lại từ 2,58% năm 2021 lên 5,5% vào năm 2022, và sau đó ổn định về mức khoảng 6,5%, nhưng những rủi ro tiêu cực vẫn ở mức cao và đòi hỏi các
Chính sách tỷ giá của Việt Nam thời gian qua đã gắn liền với chính sách đổi mới, hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu, cải thiện cán cân thương mại, góp phần tăng trưởng kinh tế. Trong quá trình đổi mới, Việt Nam luôn coi xuất khẩu là động lực chính
Kinh tế Việt Nam trước "cú sốc" Covid-19. Trường Minh. Hàng loạt các tổ chức quốc tế đã điều chỉnh hạ dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm nay về mức dưới 5%. Mảng tối nhất trong bức tranh kinh tế thời gian qua là khu vực doanh nghiệp. Qua bốn đợt sóng
Nền kinh tế Mỹ, nếu rơi vào suy thoái "sẽ là một cú sốc lớn đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam", Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia kinh tế đang sống tại Việt Nam, nói với BBC News Tiếng Việt.
Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s.
CÚ SỐC THỜI GIAN VÀ KINH TẾ VIỆT NAM 40 NĂM QUA Thời gian không chờ đợi một ai 40 năm quả là quá dài. Nhiều nước ở Đông Á với chỉ trên dưới 15 năm đã chuyển hẳn vị thế của đất nước trên bình diện quốc tế. Với những thuận lợi như ở vào thời kì dân số vàng, ở giữa dòng chảy tư bản, công nghệ, tri thức kinh doanh tại vùng năng động nhất thế giới mà Việt Nam đã không tạo ra được kì tích phát triển như họ. Đó là điều không riêng gì SG Trading mà còn ở mọi người dân Việt Nam có lòng tự tôn dân tộc không khỏi bùi ngùi. Trên thế giới có 4 dân tộc dùng đũa trong bữa ăn là Nhật, Hàn, Trung, Việt. 3 dân tộc kia đã cất cánh, không lí do gì người Việt chúng ta không thể? Dù thế nào đi nữa, chúng ta hay vẫn sống với tinh thần tích cực nhất, cầu thị, ham học hỏi và hăng say trong công việc. Sẽ một ngày không xa, đất nước chúng ta sẽ sánh vai được với cường quốc năm châu như lời Bác Hồ mong muốn. Quyển sách bao gồm nhiều bài viết giá trị đã được đăng trên tạp chí trong và ngoài nước, phân tích và nêu lên tình hình kinh tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới, đồng thời cảnh báo những thách thức mà Việt Nam đang đối mặt, trong đó có nguy cơ chưa giàu đã già là đáng lo nhất. Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến mặt trái của việc sử dụng kéo dài nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, và việc xuất khẩu lao động. Bên cạnh đóng góp quan trọng của thành phần kinh tế tư nhân, chính khao khát thay đổi và đột phá về tư duy kinh tế - chính trị của tầng lớp lãnh đạo mới là chìa khóa giúp Việt Nam tiến nhanh đến vị thế lớn trên thế giới. Hãy đặt sách để cùng nhau nhìn lại tổng quan kinh tế Việt Nam qua 40 năm! SG Trading - Mục lục quyển sách Phần I Việt Nam 40 năm qua Chương 1 Kinh tế Việt Nam 40 năm qua Chương 2 Thời gian trong kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản 3 Chương 3 Thời gian trong kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc Chương 4 Việt Nam và Trung Quốc Chương 5 Việt Nam trong dòng chảy lao động tại Á châu Chương 6 Từ Tokyo nhìn lại 40 năm Việt Nam Phần II Những thách thức có tính thời đại Chương 7 Nguy cơ chưa giàu đã già Chương 8 FDI và nguy cơ phân hóa kinh tế Việt Nam Chương 9 Thách thức trước sự trỗi dậy của Trung Quốc Chương 10 Bẫy thu nhập trung bình Trường hợp Việt Nam Chương 11 Trào lưu kinh tế Á châu và nguy cơ tụt hậu của Việt Nam Phần III Đổi mới tư duy, tầm nhìn vàchiến lược cho 20 năm tới Chương 12 Chiến lược thoát Trung Chương 13 Dùng ODA như thế nào? Chương 14 Công nghiệp hóa Ai phải là người giàu? Chương 15 Thực hiện giấc mơ thành quốc gia thượng đẳng Chương 16 Ý tưởng cho giai đoạn mới Phụ trang Bút kí kinh tế, giáo dục và lịch sử 1. Đạo đức và kinh tế thị trường 2. Phát triển và hạnh phúc 3. Tản mạn về vấn đề đô thị 4. Hai thập niên nhìn lại Việt Nam cùng với một tạp chí kinh tế 5. Phong trào Đông Du xưa và nay 6. Suy nghĩ về đại học tư tại Việt Nam 7. Tốc độ xoay chuyển vận mệnh đất nước 9. Đối thoại trí thức Việt - Trung Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Bên cạnh đó, tuỳ vào loại sản phẩm, hình thức và địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, thuế nhập khẩu đối với đơn hàng giao từ nước ngoài có giá trị trên 1 triệu đồng.....
II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn a Cú sốc cung - Ngắn hạn nền kinh tế dịch chuyển từ điểm A→B Y thấp hơn, P cao hơn - Dài hạn nền kinh tế dịch chuyển trở lại từ điểm B→A Y như cũ mức tiềm năng, P như cũ AD1 SRAS1 Y P LRAS B Y* A SRAS2 Bài 6 Tổng cầu, tổng cungBài 6 Tổng cầu, tổng cung Bài 6 Tổng cầu, tổng cung II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn 2 Nguyên nhân gây ra biến động kinh tế ngắn hạn và vai trò của chính sách ổn định vai trò của chính sách ổn định a Cú sốc cung Chính sách ổn định Chính phủ có 2 lựa chọn + tăng chi tiêu G để dịch chuyển đường AD sang phải, duy trì tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, chấp nhận tỷ lệ lạm phát cao AD1→AD2 + giảm chi tiêu G để dịch chuyển đường AD sang trái, duy trì mức giá cả như cũ, chấp nhận tỷ lệ thất nghiệp cao AD1→AD3 Các chính phủ thường quyết định tăng G để duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức tự nhiên, chấp nhận lạm phát A AD1 SRAS1 Y P LRAS B Y* SRAS2 AD2 AD3 Bài 6 Tổng cầu, tổng cungBài 6 Tổng cầu, tổng cung Bài 6 Tổng cầu, tổng cung II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn 2 Nguyên nhân gây ra biến động kinh tế ngắn hạn và vai trò của chính sách ổn định vai trò của chính sách ổn định Hạn chế của các chính sách tự ổn định + Độ trễ của chính sách độ trễ trong thời gian hoạch định chính sách; độ trễ ngoài thời gian thực hiện chính sách + Ảnh hưởng tiêu cực đến biến số vĩ mô khác khi quyết định tăng sản lượng giảm tỷ lệ thất nghiệp thì chính phủ phải chấp nhận tỷ lệ lạm phát cao hơn hoặc khi quyết định giảm tỷ lệ lạm phát thì chính phủ phải chấp nhân giảm sản lượng tăng tỷ lệ thất nghiệp sự đánh đổi trong ngắn hạn giữa lạm phát và thất nghiệp – đường Phillips Bài 6 Tổng cầu, tổng cungBài 6 Tổng cầu, tổng cung Bài 6 Tổng cầu, tổng cung II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn 2 Nguyên nhân gây ra biến động kinh tế ngắn hạn và vai trò của chính sách ổn định vai trò của chính sách ổn định Nhận xét - Cơ chế duy trì mức sản lượng cân bằng tiềm năng trong dài hạn của nền kinh tế giao điểm của AD và SRAS nằm trên đường LRAS cũng chính là những cơ chế tự điều tiết mà nền kinh tế thực hiện khi xảy ra các cú sốc cầu, sốc cung làm cho GDP thực tế dao động quanh GDP tiềm năng. Bài 6 Tổng cầu, tổng cungBài 6 Tổng cầu, tổng cung Bài 6 Tổng cầu, tổng cung II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn 2 Nguyên nhân gây ra biến động kinh tế ngắn hạn và vai trò của chính sách ổn định vai trò của chính sách ổn định Nhận xét - Sự phân đôi cổ điển classical dichotomy ảnh hưởng dài hạn của các cú sốc cầu làm thay đổi biến danh nghĩa – nominal variables mức giá chứ không làm thay đổi các biến thực tế - real variables sản lượng, việc làm. Trong dài hạn những thay đổi trong tổng cầu chỉ ảnh hưởng đến các biến danh nghĩa mà không tác động tới các biến thực tế, còn sản lượng được quyết định bởi công nghệ và cung về các nhân tố sản xuất, chứ không phụ thuộc vào tổng cầu. Bài 6 Tổng cầu, tổng cungBài 6 Tổng cầu, tổng cung Bài 6 Tổng cầu, tổng cung II Cân bằng vĩ mô trong ngắn hạn và dài hạn
Giới thiệu sách Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt NamCuốn sách này ra đời nhân dịp Việt Nam kỉ niệm 40 năm ngày chấm dứt chiến tranh và gần 30 năm từ khi có Đổi mới. Đánh giá thành quả phát triển trong 40 năm qua, phân tích những thách thức hiện nay và đề khởi đổi mới tư duy và chiến lược cho giai đoạn mới là ba phần chính của cuốn sách. Ngoài ra có chín phụ trang về các vấn đề văn hóa, giáo dục, lịch sử, những khía cạnh có liên quan đến vấn đề phát triển bền vững của nền kinh tế. Nhiều nội dung trong cuốn sách là những bài viết đã đăng trên các báo ở trong và ngoài nước trong vài năm qua, trong đó nhiều nhất là những bài trên Thời báo kinh tế Saigon. Phần lớn nội dung của Lời nói đầu này cũng đã đăng trên số báo Tết Bính Thân phát hành giữa tháng 1/2016 của tạp chí này. Ngoài ra, Vietnamnet, Tuổi Trẻ, Doanh nhân Saigon cuối tuần, Diễn Đàn, Thời đại mới, Đà Nẵng, cũng là xuất xứ của nhiều chương và phụ trang trong sách này. Tuy dùng nhiều bài đã đăng nhưng lần này tác giả đã bổ sung, làm mới tư liệu và sửa chữa những chỗ chưa chính xác. Tác giả cảm ơn ban biên tập các báo nói trên. Việc soạn thảo, chỉnh lí nội dung cuốn sách vào giai đoạn cuối thì tác giả có dịp tham gia dự án Báo cáo Việt Nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Chính phủ Việt Nam thực hiện và đóng góp bài viết “Việt Nam cần một nền kinh tế thị trường định hướng phát triển Đánh giá 30 năm đổi mới và nhìn về tương lai”. Tác giả cảm ơn chị Phạm Chi Lan, một trong những chuyên gia phụ trách dự án nói trên, đã có nhã ý yêu cầu tham gia nên tác giả có dịp tổng kết các suy nghĩ về chủ đề chính trong sách này. Ngoài ra, trong mấy năm qua, qua các hội thảo hoặc qua trao đổi riêng, tác giả nhận được rất nhiều ý kiến, nhiều tư liệu và thông tin bổ ích hoặc những khuyến khích quý giá trong quá trình hình thành ý tưởng và phân tích cho nội dung cuốn sách. Không thể kể hết, nhưng có dịp trao đổi nhiều nhất là những anh chị Lê Đăng Doanh, Trần Hữu Dũng, Phan Chánh Dưỡng, Chu Hảo, Phạm Chi Lan, Trần Đức Nguyên, Huỳnh Bửu Sơn, Võ Trí Thành, Trần Đình Thiên, Trần Trọng Thức, Hà Dương Tường, và Vũ Quang tin tác giả GS. Trần Văn ThọGS. Trần Văn ThọSinh tại Quảng Nam. Ông là giáo sư danh dự, Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản. Trước đó ông từng là thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; Từng tham gia tổ tư vấn cải cách kinh tế và hành chính của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cộng tác với ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải. Giáo sư Trần Văn Thọ lấy bằng tiến sĩ kinh tế Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ông là một trong ba người nước ngoài đầu tiên được mời làm việc trong Hội đồng tư vấn kinh tế nhiều đời của Thủ tướng Nhật và làm cố vấn cho nhiều cơ quan của chính phủ Nhật Bản. Giáo sư Trần Văn Thọ là tác giả của một số tác phẩm xuất bản bằng tiếng Nhật và tiếng Việt về kinh tế châu Á, Nhật Bản và Việt Nam. Tác giả từng nhận giải Giải Châu Á Thái Bình Dương Nhật và hai cuốn được Giải Sách Hay Việt Nam.Sách Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam của tác giả GS. Trần Văn Thọ, có bán tại Sách Khai Trí với ưu đãi Bao sách miễn phí Xem thêm ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỘC GIẢ Hãy đánh giá Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam để giúp những độc giả khác lựa chọn được cuốn sách phù hợp nhất! Cú Sốc Thời Gian Và Kinh Tế Việt Nam Giá bán tại NetaBooks ₫ ₫ Tiết kiệm ₫-20%
Cú sốc kinh tế là sự “mất mát” có nguyên nhân chủ quan, nhưng phủ nhận và hơn thế là ngộ nhận về năng lực làm nảy sinh sự nóng vội tăng trưởng. Trước hết, cú sốc kinh tế ở Việt Nam vừa xảy ra là khá nghiêm trọng. Tổng cục Thống kê vừa công bố số liệu tổng sản phẩm trong nước GDP chín tháng đầu năm 2021 ước tăng 1,42%, trong đó GDP quý ba ước giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất từ những năm đầu Đổi mới đến nay. Sự suy giảm sâu nhanh chóng khiến nhiều người “bất ngờ”, nghĩa là trái với những hình dung, suy luận, dự đoán chủ quan của nhiều người, tạo ra cú sốc mạnh về kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách đã đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cho năm 2021 là 6,5-7%. Ngân hàng Thế giới WB vào đầu tháng 9 đánh giá tăng trưởng kinh tế có xu hướng giảm do tác động của dịch, nhưng năng lực vẫn vững, nên vẫn dự báo tỷ lệ GDP Việt Nam năm 2021 là 4,8%, tuy nhiên vào tuần đầu tháng 10 đã hạ dự báo tăng trưởng GDP xuống 2-2,5%. Ngoài chỉ tiêu GDP, sự sụt giảm diễn ra từ cả hai phía cung và cầu, tổng mức bán lẻ hàng hoá và tiêu dùng sụt giảm mạnh đồng thời với việc giảm sâu chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp, trong đó ngành chế biến vốn “dẫn dắt” tăng trưởng giảm mạnh nhất. Các chuyên gia trong nước đưa ra nhận định rằng các trụ cột tăng trưởng đang “lung lay”. Xuất khẩu đã giảm nhanh do tác động của giãn cách xã hội kéo dài tại trung tâm kinh tế phía Nam, cán cân thương mại thâm hụt. Đầu tư công bị “ách tắc” không thể giải ngân vì nhiều lý do hơn là đổ tại cho dịch… Cú sốc kinh tế đã khiến sức chống chịu của nền kinh tế đã tới hạn. Gần bốn tháng phong toả nghiêm ngặt thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận đã gây ra sự “tổn thương tới ngưỡng chịu đựng của nền kinh tế” – như thừa nhận của Bí thư Thành uỷ Nguyễn Văn Nên trong cuộc họp với các chuyên gia kinh tế và y tế ngày 17/9. Trước hết, nhiều doanh nghiệp đã kiệt quệ và đang trong tình trạng “ngắc ngoải”. Theo kết quả một cuộc khảo sát mới đây, gần 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh, tập trung nhiều nhất tại TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và phần lớn trong số đó không tiên liệu được sẽ phải đóng cửa trong bao lâu. Còn theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, từ đầu năm đến cuối tháng 9/2021, có doanh nghiệp thành lập mới nhưng có tới doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 24,2% so cùng kỳ năm trước, và trong đó hơn 50% là tạm ngừng kinh doanh, còn lại đang làm thủ tục giải thể hoặc đã hoàn thành thủ tục phá sản. Đối với khu vực doanh nghiệp FDI, một trong những động lực tăng trưởng chính của Việt Nam, sự đứt gãy chuỗi cung ứng và đình trệ sản xuất kéo dài này cũng đang gây ra quan ngại lớn. Theo báo cáo Chỉ số môi trường kinh doanh vừa được EuroCham Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam thực hiện, niềm tin của các lãnh đạo doanh nghiệp về triển vọng kinh doanh tại Việt Nam đã rớt xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010, 18% trong tổng số 193 công ty được khảo sát cho biết đã chuyển dịch một phần đơn hàng hoặc nhu cầu sản xuất sang các nước khác, trong khi 16% doanh nghiệp cũng đang cân nhắc về điều này. Hình minh hoạ công nhân làm việc trong nhà máy sau khi lệnh phong toả được dỡ bỏ ở Hà Nội hôm 1/10/2021. Reuters Ngoài ra, thị trường lao động đang bị rối loạn, tỷ lệ thất nghiệp cao, đời sống người lao động, đặc biệt số lao động buộc phải về quê, rất khó khăn, tỷ lệ nghèo tạm thời đã tăng lên từ 10% ở điều kiện bình thường đã lên hơn 33%, và có thể còn tiếp tục tăng theo nhận định của các chuyên gia từ số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, gần 19 triệu người giảm thu nhập, rối loạn dịch chuyển lao động làm đảo lộn sinh hoạt dân cư… Sau nữa, đến nay phí tổn ngân sách chống dịch đã gần 30,5 nghìn tỷ, trong đó tỷ lệ khá cao dành cho lực lượng vũ trang tham gia, và nếu kể cả tiền hỗ trợ người dân và doanh nghiệp từ các nguồn khác nhau tổng chi phí ước tính là 6-7 tỷ đô la. Khi nguồn lực quốc gia bị bào mòn, xuất hiện rủi ro cho cân đối kinh tế, nguy cơ lạm phát, đe doạ bất ổn xã hội… Tất nhiên, sự phủ nhận có nguyên nhân chủ quan và, hơn thế, là ngộ nhận về năng lực điều hành kinh tế có thể làm nảy sinh sự nóng vội tăng trưởng. Cú sốc kinh tế ở Việt Nam cũng liên quan trực tiếp đến đến đại dịch COVID-19, nhưng nó “khác thường”, khác với nhiều nước nó “đến muộn” hơn về thời điểm và có nguyên nhân chống dịch chủ quan, lúng túng. Đối với toàn nhân loại đại dịch này là “chưa từng xảy ra”, “đột ngột” và “nguy hiểm”. Nó đã khởi phát từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối năm 2019 và lan rộng ra toàn thế giới với mức độ khác nhau. Là “cái nôi” của dịch, cách phong toả khắc nghiệt hơn 11 triệu dân ở Vũ Hán và các vùng lân cận của tỉnh Hồ Bắc, dù kìm chế được sự lan rộng, nhưng đã để lại bài học chuyên chế gây tranh cãi và mang tính ý thức hệ. Sự lây lan dịch bệnh từ Trung Quốc sang Mỹ và các nước phương Tây, đặc biệt ở châu Âu diễn ra nhanh chóng do các mối liên hệ rộng mở kinh tế, việc làm, du lịch trong bối cảnh toàn cầu hoá. Tuy nhiên, cách tiếp cận chống dịch của các thể chế dân chủ dựa trên tôn trọng tự do cá nhân, cũng không hẳn là “tối ưu” đối với COVID-19 khi chưa có vắc-xin phòng ngừa. Các quốc gia đã phải chịu cú sốc về y tế và kinh tế ngay trong năm 2020, có nước chứng kiến sự sụt giảm tỷ lệ GDP lên tới hai con số, nhưng đã không mắc vào cái bẫy “Zero COVID”, đã dần trở lại trạng thái bình thường mới khi có vắc-xin và độ bao phủ cao cần thiết. Chính phủ Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều về cách tiếp cận “Trung Quốc”, đã chống dịch thành công trong ba đợt dịch đầu trong hơn một năm kể từ đầu năm 2020, nhưng đã chủ quan dẫn đến chính sách đối phó lúng túng vì thiếu nguồn lực và phương tiện y tế khi đợt dịch thứ tư bùng phát dữ dội tại vùng trung tâm kinh tế cả nước, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, từ khoảng giữa năm 2021 đến nay. Sự cộng hưởng với sốc đại dịch khiến cho cú sốc kinh tế trở nên “khác thường” hơn. Phong toả nghiêm ngặt, kéo dài khi chiến lược vắc-xin chậm, bị động và năng lực xét nghiệm vi rút yếu kém; thế mạnh của cơ chế tập trung quyền lực về huy động lực lượng trong tình huống cấp bách không phát huy được; rối loạn chức năng điều hành và phối hợp giữa chính quyền trung ương và địa phương; năng lực cán bộ lãnh đạo bộc lộ hạn chế và né tránh trách nhiệm… Tất cả yếu tố “khác thường” làm tê liệt kinh tế ở vùng trung tâm dịch, gây nên cú sốc kinh tế Việt Nam. Sức ép từ cú sốc kinh tế nghiêm trọng đã biến chiến lược “Zero COVID” của Việt Nam thành ảo tưởng và mục tiêu kép đã chỉ là khẩu hiệu. Các Chỉ thị 15, 16 và 19 của Chính phủ về phòng chống dịch trước đây được thay thế bởi Nghị quyết 128, trong đó quy định bốn cấp độ nguy hiểm với các tiêu chí cụ thể hơn để vận dụng. Tuy nhiên, chung sống với đại dịch thế nào vẫn là thách thức, sức ép từ cú sốc kinh tế, tình trạng “trên bảo dưới chưa nghe”, lao động thiếu và bất an trong bối cảnh tỷ lệ bao phủ vắc-xin thấp, không đồng đều... Cú sốc kinh tế hiện nay ở Việt Nam có ý nghĩa cho việc điều hành của chính quyền hơn là để cho tâm lý nóng vội phục hồi vì lý do tăng trưởng để thể hiện năng lực ngộ nhận. Kinh tế không thể bật dậy ngay sau cú sốc do những mất mát và tổn thương không chỉ về kinh tế mà cả xã hội. Trước mắt phải là ưu tiên nhiệm vụ ổn định cuộc sống người dân và doanh nghiệp, an cư lâu dài, sau là những chính sách phục hồi đi đôi với cải cách thể chế. Tâm lý nóng vội tăng trưởng, vì vậy, cần được cảnh báo để Chính phủ tránh hơn là bị cuốn theo, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn và diễn biến dịch bệnh COVID-19 còn phức tạp. * Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.
cú sốc thời gian và kinh tế việt nam